26/07/2021

Giới thiệu tập ký: Đường Binh nghiệp của tôi

          Đường binh nghiệp của tôi là tuyển tập ký ức chiến trận trọn vẹn nhất của thiếu tướng Nguyễn Chuông do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành đầu năm 2005, một năm trước ngày mất của ông (23/3/2006).

          Cuốn sách ẩn chứa trí tuệ quân sự và tâm tư sâu sắc của một vị tướng tài hoa từng dầu dãi bạt mạng trong chiến trận. Không trau chuốt về ngôn từ, tập ký hấp dẫn bạn đọc ở cách chọn lọc chi tiết đặc sắc cùng giọng văn cá tính như chính con người anh hùng, ngang tàng và quyết liệt của Nguyễn Chuông. Nguyện vọng ông gửi gắm trong tác phẩm của mình là tôn vinh các đơn vị thân yêu đã bao phen cùng tôi xông pha lửa đạn, là tri ân những người mẹ, những y bác sĩ, những ân nhân… đã đi qua cuộc đời ông trong những tháng ngày vào sinh ra tử trên hai mặt trận chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Cuốn sách đặc biệt ý nghĩa với những người trẻ yêu lịch sử, mang lại một nét nhìn chân thực về chiến tranh Việt Nam cũng như cổ vũ tinh thần yêu nước từ tấm gương chiến đấu và hy sinh của một thế hệ trẻ tràn đầy nhiệt huyết trong quá khứ.

          Mở đầu tập ký là Kỷ niệm ngày lên đường, Nguyễn Chuông khi đó mới 16 tuổi đã thoát ly gia đình đi tìm một chân trời cao rộng hơn. Chứng kiến cuộc sống người nông dân Việt Nam những năm bốn mươi của thế kỷ XX chìm trong tăm tối, kiệt quệ bởi cái ách một cổ ba tròng của Pháp, Nhật và giai cấp phong kiến, chú bé Chuông đã trăn trở: Tại sao, những cánh đồng tươi tốt, những bãi sông đầy mía và chuối kia không nuôi sống được con người?… Về phía chúng tôi bề ngoài cũng chẳng khác gì họ cũng tay xách, nách mang, cũng vẻ mặt phờ phạc, mệt nhọc. Chỉ có điều, họ và chúng tôi mục đích khác nhau: Họ đi ăn xin tạm kiếm sống cho mình. Còn chúng tôi đi với ước mong xóa bỏ kiếp người đói khổ.

          Từ giây phút đội trên đầu chiếc mũ ca lô màu tím chính thức trở thành anh Giải phóng quân, Nguyễn Chuông bắt đầu bước vào nghiệp nhà binh và gắn bó cho tới cuối cuộc đời. Ông trưởng thành trong quân ngũ từ một chú lính mới chưa biết đọc biết viết, nhờ nghị lực và sự thông minh đã trở thành vị tướng quân tài ba, người anh cả nghiêm trang và nhân từ của những chiến sĩ trong trung đoàn, sư đoàn mình.

          Từ miền quê trung du Vĩnh Phú với rừng cọ, đồi chè đồng xanh ngào ngạt ông đã hành quân, sống và chiến đấu trên biết bao miền quê hương khác nhau của Tổ quốc Việt Nam tươi đẹp. Lần đầu xuống đồng bằng người thanh niên trẻ đã choáng ngợp bởi cái hồn làng thanh thuần thơ cổ, tiến vào rừng sâu thì bắt gặp những cảnh trí nguyên sơ kỳ thú, ông còn nhớ như in cái ngày cùng anh em trinh sát ẩn mình trong những chiếc chum cổ trên Cánh đồng Chum bao la huyền bí của nước bạn Lào. Điều đáng quý là đoàn quân của ông đi đến đâu tình quân dân nơi đó cũng thắm thiết sâu nặng như cá với nước để rồi "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, thế mới có phong trào nhận bộ đội làm con nuôi, một số anh em lấy vợ tại những nơi huấn luyện, đóng đồn. Bộ đội Việt Nam đi được dân nhớ, ở được dân thương chính bởi trong mọi hoàn cảnh các anh luôn giữ vững phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ: kiên quyết với giặc chẳng ngại hy sinh, với dân thì một lòng bảo vệ, không tơ hào cái kim sợi chỉ của người dân, có thiếu sót thì chân thành nhận lỗi, sửa sai. Còn nhớ “sự cố binh nghiệp” đầu đời của anh lính nghèo Nguyễn Chuông. Trên đường hành quân, ghé vào một quán nước ven đường, lóng ngóng thế nào anh lại làm vỡ bình kẹo của bà cụ bán nước, dù bà chẳng chút để bụng còn mời ăn cơm. Nhưng sau khi về đơn vị, Chuông đã được bạn bè góp tiền và cử một anh chàng nói chuyện có duyên nhất trong đội tới nhà bà cụ cố gắng “thương thuyết” sao cho bà nhận số tiền ấy, gia đình bà cụ với các anh bộ đội sau đó đã thân nhau như người một nhà. “Thời ấy hình ảnh anh Giải phóng quân là một hình ảnh đẹp. Vẻ đẹp trước hết là ở đức hy sinh, sự chịu đựng gian khổ và quyết tâm chiến đấu không lùi bước trước bất cứ khó khăn trở lực nào. Đôi vai người lính bấy giờ gánh rất nặng: Gánh sông núi, rừng biển, đồi nương, đồng ruộng, gánh cả vận mệnh dân tộc nữa. Nhưng mà tâm hồn trong sáng, tấm lòng thanh thản và vui nhộn, yêu đời. Ăn đói vẫn hành quân dẻo dai, thiếu súng dùng gậy tập luyện, đêm mưa nằm kể chuyện quê nhà, tối nào có trăng thì ngồi thành mấy vòng vỗ tay mà hát.”

            

          Lần đầu Nguyễn Chuông ra trận là vào năm 1947 khi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang dội khắp non sông. Cơ sở của ông khi ấy đóng trên dãy núi Khau co, tỉnh Lào Cai, thời tiết rừng núi khắc nghiệt, sương gió ẩm ướt có khi cả tuần chẳng nhìn thấy mặt trời, muỗi, vắt, ruồi, bọ quấy phá bộ đội ta đêm ngày. Có nhiều anh em không hy sinh trong chiến đấu mà ra đi vì không chống chọi nổi với bệnh tật do thiếu thốn lương thực, thuốc men. Khi đói thì kiếm cái gì đó ven đường: cóc nhái, ếch ương, rau rến... cho cả vào nồi, có lần bộ đội ta ăn phải cây lai dầu anh nào anh nấy sùi cả bọt mép, chân tay run rẩy phải nhờ dân bản địa tìm lá sắc cho uống giải độc, ghẻ lở mụn nhọt thì đã có lũ cá mương “điều trị” giùm. Các chị em trong vùng khi ấy có bài ví:

Các anh vệ túm ở làng

Quần anh rách thế cả làng đều thương

Chúng em là gái Bãi Dương

Muốn gửi đường vá nối liền đôi ta!

          Bầu không khí yêu thương trìu mến của hậu phương khiến bộ đội ta ai cũng vui mừng phấn khởi, khó khăn gian khổ chẳng làm nao núng chí nam nhi. Mùa thu đông năm 1953 Đại đoàn 312 tiếp tục tiến quân vào vùng rừng núi Tây Bắc hiểm trở mà kỳ vĩ để nhận các nhiệm vụ trên chiến trường Điện Biên, mở đầu là công tác làm đường kéo pháo, kéo pháo ra, rồi kéo pháo vào. Mưa rừng tầm tã, đường núi nhỏ hẹp, chỉ cần sơ sẩy là cả người và pháo cùng rơi xuống vực sâu, chưa kể việc máy bay và pháo binh Pháp thường xuyên bắn phá dữ dội tại một số điểm đèo. Quân ta chỉ dùng sức người mà đối chọi với cả thiên nhiên và kẻ địch. Chính tại nơi núi rừng u vắng ấy vào một đêm mưa lạnh, người chiến sỹ quả cảm Tô Vĩnh Diện đã anh dũng hy sinh khi lấy thân mình chèn càng pháo; trước lúc ra đi, anh vẫn hỏi "Pháo có việc gì không?". Chứng kiến từng khẩu pháo vượt qua đèo An Tao theo tiếng hô trầm hùng của các chiến sỹ Điện Biên, nhạc sỹ Hoàng Vân đã xúc động viết lên giai điệu bài Hò kéo pháo:

Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi

Hai – ba này! Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù…

          Chưa hết ngỡ ngàng về con đường kéo pháo, tải lương thần diệu ấy, quân đội Pháp còn phải đối mặt với hệ thống hầm hào công sự sinh sôi nhanh chóng với những nhánh dài tiếp cận tới từng cứ điểm của giặc, phát triển thành một vòng vây khổng lồ siết chặt toàn bộ 200km trận địa mà địch dày công bố trí. Để gây bất ngờ cho giặc và không bỏ lỡ thời cơ chiến lược, bộ đội ta phải ăn ở, sinh hoạt, chiến đấu và hy sinh ngay trong lòng đất. Bất kể đêm ngày, mưa sình hay nắng lửa dưới tầm bom đạn của kẻ thù, các chiến sỹ vẫn tay cuốc tay xẻng hối hả dũi đất đào hầm. Hỏa lực của giặc dội xuống sập đoạn hầm nào thì ta lập tức khôi phục đoạn đó và đào lấn thêm, mưa dầm, cơm vắt/ máu trộn bùn non nhưng không thể làm bộ đội ta núng chí, mòn gan.

          Muốn đi tới thành công phải trải qua gian lao trở ngại, đó là quy luật tất yếu của tự nhiên. Trước mỗi thách thức trong cuộc đời chiến trận, Nguyễn Chuông lại càng thấm thía câu thơ của vị lãnh tụ dân tộc: Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông. Bản thân ông và những cán bộ, chiến sỹ như hạt gạo kia, khi cần thiết thì sẵn sàng chấp nhận rèn luyện trong đấu tranh, gian khổ, tù đày để tu dưỡng bản lĩnh chiến đấu và đạo đức cách mạng. Thời gian mười tám ngày trong trại giam Điện Biên, Nguyễn Chuông dù không được tham gia chiến đấu trên trận tiền khói lửa, nhưng ông vẫn giữ vững tác phong anh bộ đội Cụ Hồ. Được các anh em trong nhà giam bầu làm lãnh đạo chi bộ, ông và các đồng chí của mình đã có nhiều việc làm sáng tạo để bảo vệ tù binh, cải thiện đời sống anh em. Tranh thủ tuyên truyền giác ngộ cho các dân phu bị địch bắt vào đây làm lao dịch, và một số lính đánh thuê Âu Phi có cảm tình với ta. Khi quân ta đánh vào, ông đã tổ chức thành công việc khiêng cáng các anh em bị ốm và thương nặng ra khỏi ngục cũng như dẫn đường cho bộ đội. Ý chí người chiến sỹ cách mạng như ngọn đuốc vẫn sáng bừng trong gian nguy: “hơn một trăm anh em sau khi bị thương đã bị bắt làm tù binh, lâm phải cảnh ngộ đắng cay mà vẫn kiên trung với Đảng, với quân đội với nhân dân không một ai chịu khuất phục trước kẻ thù, đó cũng là sự đóng góp vào chiến thắng Điện Biên.”

             Khi cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra, không nhiều người trên thế giới này tin rằng Việt Nam sẽ giành được chiến thắng trước gã khổng lồ đế quốc với nhiều tàu to, súng lớn... Họ coi cuộc chiến đấu này chẳng khác nào “Châu chấu đá voi”. Chắc hẳn kẻ xâm lược khi ấy không thể nào hiểu được vì sao một dân tộc chìm trong đói nghèo, lạc hậu liên miên bởi sự áp bức bóc lột tàn khốc lại có được sức mạnh để làm nên những chiến công phi thường như vậy, tại sao những nam thanh nữ tú kia tuổi mới mười tám đôi mươi lại không tiếc máu xương mình hiến dâng thanh xuân trên những nẻo đường mịt mù khói lửa. Ngọn nguồn của sự gan góc quả cảm ấy chính là tinh thần lạc quan và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của dân tộc Việt Nam được truyền từ Người Lãnh tụ vĩ đại Nguyễn Ái Quốc tới mọi tướng sĩ, mọi tầng lớp nhân dân trên mảnh đất này. Thống tướng Hoa Kỳ Douglas MacArthur trong cuộc đời chinh chiến hiển hách của mình đã chiêm nghiệm rằng: Người lính là người cầu nguyện cho hòa bình nhiều hơn bất cứ ai, bởi chính người lính là người phải chịu đựng và mang những vết sẹo chiến tranh nặng nề nhất. Trong một trận đánh cuối chiến dịch Điên Biên Phủ, Nguyễn Chuông đã bị thương rất nặng, đó là buổi sáng ngày 18 tháng 4 năm 1954. Cậu liên lạc mếu máo úp vội cái bát lên đầu Nguyễn Chuông hối hả băng lại vì thấy máu mồm máu mũi máu tai thủ trưởng ộc ra, hãi nhất là trên đầu ông, óc toé loe... Khi Nguyễn Chuông tỉnh lại mới hay mình chỉ bị sức ép còn óc kia là của đồng đội văng vào! Trong tập hồ sơ tư liệu của ông bây giờ còn lưu lại hai cuốn sổ thương binh. Hạng 4/8 chống Pháp và 3/4 chống Mỹ. Có điều ông không đổi sổ mà giữ làm kỷ niệm. Trải qua bốn mươi năm binh nghiệp, vị chỉ huy tâm trí thép như Nguyễn Chuông đã không biết bao lần rơi nước mắt khi chứng kiến sự hy sinh của hàng ngàn đồng đội. Có những trận, giặc bắn vào quân ta không tiếc đạn, anh em thì bị thương mà vẫn động viên nhau tiếp tục chiến đấu và gắng bắn… tiết kiệm đạn, mỗi người khi ngã xuống đều mang một tư thế khác nhau: có người bình thản “gục lên súng mũ bỏ quên đời”, có người ngỡ ngàng, lại có những chiến sỹ vẫn trong tư thế tập trung vào nhiệm vụ. Đó là Tiểu đội trưởng Khoát quê ở Thái Bình lấy thân mình làm giá thiết cho anh em vượt qua xung phong chiếm lấy đồn giặc, anh hy sinh với súng một bên, một tay vẫn níu chặt cọc hàng rào, máu đẫm áo quần chảy xuống đất Tú Lệ…; rồi anh Vũ Miên phụ trách tổ xung kích số 1, chết mà thân hình nằm nghiêng ngay trước lỗ châu mai… Không biết có những viên đạn nào cắm vào thịt xương anh đã che cho tôi… hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp đến là trận đánh ở sân bay Mường Thanh anh em hy sinh nhiều quá, có đồng chí tôi chỉ nhìn thấy hai bàn chân trên mặt chiến hào, có đồng chí đầu văng đi đâu mất… không còn biết nói sao cho hết nỗi xót đau. Dẫu biết đời người dài ngắn chẳng tính tháng tính năm mà tính bởi những gì ta gắn bó và cống hiến cho cuộc đời nàycác anh ra đi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc vĩ đại, đời người như thế thật vẻ vang! Hoàn thành nghĩa vụ với non sông các anh phải bỏ lại sau lưng những mảnh tình riêng côi cút nhớ thương, người chiến sỹ nắm chắc tay súng đâu chỉ bởi nam nhi chi chí mà còn vì bảo vệ hậu phương thân yêu. Vậy mà giờ đây người ở lại chỉ có thể ngắm nhìn các anh trong dáng hình đất nước, bóng dáng ấy hiên ngang bất khuất mà cũng rất đỗi bình dị thân thương:

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:
Anh là chiến sỹ Giải phóng quân.

          Các anh ngã xuống hóa thân vào đất mẹ, linh hồn các anh trở thành hồn núi hồn sông. Sự cách biệt của hai thế giới chẳng thể làm phai mờ ân nghĩa thủy chung. Có những người đồng đội khắc khoải cả phần đời còn lại vì khắc cốt ghi tâm quãng thời gian chiến đấu bên nhau, hồn nhiên và sôi nổi "Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ." Với khoảng 200.000 hài cốt liệt sĩ chưa được quy tập về các nghĩa trang, hơn 300.000 tấm bia vẫn khắc hai chữ Vô danh thì niềm khắc khoải ấy có bao giờ vơi cạn trên đất nước này?! Chiến tranh đã qua đi hơn nửa thế kỷ, những người mẹ nhớ con, những người vợ mất chồng, những đứa bé khát cha,… vẫn miệt mài đi tìm di hài người thân lưu lạc đâu đó nơi rừng sâu khe suối thâm u và lạnh lẽo: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ". Những chiến sỹ thời bình tiếp tục trèo đèo lội suối, không kể nắng mưa, không ngại rừng thiêng nước độc trở về chiến trường năm xưa kiên trì lật từng tấc đất, đào từng khe suối mong gặp lại cố nhân dù chỉ còn xương cốt. Giá trị của những trang hồi ức chiến trận do người đồng đội còn sống sót kể lại thật vô cùng to lớn và thiêng liêng với thân nhân của người đã khuất, chạm vào trang giấy mà nghe thấy tiếng nói, hơi thở, thấy cả bóng dáng người thương. Như người mẹ ở Hải Phòng mà tác giả nhắc đến trong tập ký này, đã òa khóc khi tìm gặp được ông Nguyễn Chuông người thủ trưởng đã ký vào giấy báo tử của con trai mình, bà chỉ muốn trực tiếp nghe ông kể về đứa con bé bỏng của bà đã chiến đấu và hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc như thế nào: “Tôi biết là con tôi không còn mồ mả gì nữa đâu, không còn cả thân xác nữa đâu… Vì thế tôi vào Quảng Trị… để xin một nắm đất nơi cháu đã ngã xuống… tôi đem về tôi thờ… thì như vậy cũng như lúc nào tôi cũng được gần con tôi”. Máu của con mẹ, máu của biết bao chiến sỹ và người dân yêu nước đã thấm trên từng tấc đất của quê hương xứ sở làm nên hồn thiêng sông núi và những mùa xuân bất diệt cho đất trời Tổ quốc: "Cỏ non xanh tơ! Cỏ non xanh tơ, xin chớ vô tình với người ngã xuống trên đất quê mình." Vị tướng già Nguyễn Chuông cũng như bao cựu chiến binh khác sau chiến tranh trở về đoàn tụ với gia đình nhưng ký ức một thời hoa lửa thì ám ảnh mãi khôn nguôi: “Cuộc đời tôi phải nói là may mắn nhiều. Trong đời cầm quân cho đến lúc lên hàm tướng, chỉ kể từ cấp trung đoàn, sư đoàn, rồi quân đoàn, quân khu, anh em trong đơn vị tôi hy sinh hàng nghìn đồng chí. Nhiều đồng chí là con độc nhất trong gia đình, mẹ cha mất rồi thì không còn ai hương khói cho nữa. Nên tôi lập am thờ đồng đội đã hy sinh, để anh em đỡ tủi trong những ngày lễ, tết”.

Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm!

            

        Nền hòa bình mà ngày hôm nay chúng ta đang hưởng thụ không dễ dàng có được, nhất định phải trân trọng giữ gìn. Khi Tổ quốc cần chúng ta luôn sẵn sàng! Tiếp nối truyền thống uống nước nhớ nguồn của cha ông, bảy mươi tư năm đã trôi qua từ lần đầu tiên cả nước kỷ niệm Ngày Thương binh liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2021), một dịp để tri ân lớp người đã viết nên trang sử vàng dân tộc, mỗi chúng ta lại soi mình vào quá khứ để sống tốt ở hiện tại và làm chủ ngày mai. Henry Ward Beecher đã nói:Trái tim không biết ơn sẽ không tìm được sự hạnh phúc. Khi chúng ta có lòng biết ơn, sẽ tìm thấy hạnh phúc từng giờ. 

Bảo Du