THƯ VIỆN TỈNH THÁI BÌNH

Danh nhân Thái Bình 04 In Email
 

Huyện Tiền Hải

 

 

1. Nguyễn Quang Bích (107):

Nguyễn Quang Bích người làng Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Chân Định (nay thuộc xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình). Sinh năm Nhân Thìn (1832). Ông nguyên dòng dõi họ Ngô, sau đổi thành họ Nguyễn. Ông đỗ cử nhân khoa Tân Dậu (1861) ; năm 38 tuổi, ông đi thi kì Ân khoa ; năm Kỉ Tỵ niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869) đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp), đứng đầu cả khoa thi Đình nguyên. Năm 1870, ông được vào kinh giữ chức Nội các thừa chỉ, sau được bổ làm tri phủ Lâm Thao, được thăng chức án sát Sơn Tây. Năm 1885, vua Hàm Nghi kêu gọi cần vương chống Pháp, đã phong ông làm làm Hiệp thống Bắc kỳ quân vụ đại thần Thuần trung tướng quân. Ông đi sứ 2 lần sang Vân Nam cầu nguyện Trung Quốc. Năm Canh Dần (1890), ông bị ốm và mất tại bản doanh chống Pháp ở xã Mộ Xuân (thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay).

 

2. Trần Xuân Sắc (trang 109):

Quê xã Đông Thành, tổng Hà Cát, huyện Giao Thuỷ, nay là xã Nam Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Đỗ cử nhân năm 1878, đỗ Phó bảng năm 1879, được bổ làm hàn lâm viện kiểm thảo, sau đó làm tri huyện Tiên Lữ Hưng Yên. Bất bình với triều đình Huế, ông cáo quan về quê dạy học.

 

3. Hoàng Vinh (trang 74):

Sinh năm 1614, tại xã Đại Hoàng, tổng Đại Hoàng, huyện Chân Định, nay là xã Tây Lương, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1640, thi đỗ ông nhận việc ở Viện Hàn lâm. Áy náy trước việc nhân tài của huyện không thiếu mà người đỗ đạt hiếm hoi, ông xin kì được về làm Giáo thụ trấn Sơn Nam, kiêm huấn đạo huyện Chân Định.

 

 

Huyện Vũ Thư

 

 

1. Nguyễn Bảo: (26)

Nguyễn Bảo quê làng Phương Lai nay thuộc xã Phú Xuân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đồng tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 3, đời Lê Thánh Tông (1472). Sau khi thi đỗ được Lê Thánh Tông chọn vào Đông các làm Tả tư giảng phò Thái tử và dạy dỗ con vua. Năm Hồng Đức thứ 26 (1945) được thăng chức hữu Thuyết thư. Khi Lê Hiến Tông lên ngôi đã thăng chức Thị độc viện Hàn lâm cho Nguyễn Bảo.

Ông được vua Lê Hiến Tông đặc biệt tin dùng, trong những năm làm quan, Nguyễn Bảo đã nhiều lần làm độc quyền, làm giám thị, giám khảo nhiều kì thi hội. Cuối đời, Nguyễn Bảo về trí sĩ và dạy học và mất ở làng. Ông còn là một nhà thơ lớn của Thái Bình với 160 bài thơ được dịch và giới thiệu.

Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã ghi nhận Nguyễn Bảo là công thần có công lao và tài đức thời Lê sơ.

 

2. Đặng Diễn (trang 11):

Đặng Diễn người làng An Để, hương Mần Để, châu Hoàng (nay là xã Hiệp Hoà, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Năm 1127 ông được chọn vào học ở Ngự diên, năm 1231 lãnh chức "Ngự tiền bút thư" trong phái đoàn của vua Trần hành hương về Tức Mạc (Nam Định) bái yết tiên tổ. Năm 1232 ông tham dự kì thi Thái học sinh khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Thiên ứng Chính binh I đời vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), đỗ đệ nhị giáp, đệ nhất danh (Hoàng giáp). Năm  1234, thượng hoàng Trần Thừa mất, ông được bổ chức hộ tống Ngự quan về táng ở Tinh Cương (Hưng Hà). Năm 1237 được điều chuyển sang Tá thư tri Quốc tử viên. Sau ông cáo quan đi tu ở chùa Yên Tử. Cuối đời về mất ở quê hương.

 

3. Đỗ Duy Đê (trang 105):

Sinh năm 1817, người xã Hương Cáp, tổng Cự Lâm, huyện Thư Trì (nay thuộc xã Hiệp Hoà, huyện Vũ Thư). Ông đỗ cử nhân năm 1848, năm 1949 ông lại đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân. Ông từng giữ các chức : Hàn lâm Thừa chỉ, Tri phủ Định Viễn, Hàn lâm Thị giảng, Tham tri Hộ bộ.

 

4. Nguyễn Xuân Huyên (trang 86):

Người xã Hoàng Xá, tổng An Lão, huyện Thư Trì, nay là xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. 25 tuổi ông đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ. Ông làm quan với chức : Công bộ Hữu thị lang, tham chính xứ Sơn Tây, được cử đi sứ 2 lần.

 

5. Đỗ Lý Khiêm (trang 41):

Người làng Ngoại Lãng, nay thuộc xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ Trạng nguyên năm 1499, được bổ vào làm quan ở Ngự sử đài, sau thăng phó Đô ngự sử, được cử sang nhà Minh 3 năm, ông mất trên đường trở về nước. Triều đình truy tặng ông chức Đô ngự sử và Công bộ Thượng thư, phong làm phúc thần làng Ngoại Lãng.

 

6. Doãn Khuê (trang 103):

Tên tự là Bảo Quang, sinh năm 1813 tại làng Ngoại Lãng, tổng Vô Ngại, huyện Thư Trì, nay thuộc xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đệ Tam giáp đông tiến sĩ năm 25 tuổi, làm quan qua các chức : Hàn lâm viện biên tu, Tri phủ ứng Hoà, Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm giám sát Ngự sử Lạng - Bằng, giáo thụ Xuân Trường. Năm 1847, ông bị bệnh cáo quan về dạy học. Năm 1860 ông lại ra giữ chức đốc học Nam Định, rồi đến đốc học Sơn Tây, Hải Phòng, được bổ làm Thương biện coi mạn biển Nam Định, Doanh điền sứ Nam Định. Bất bình với triều đình ông lại từ quan về quê dạy học.

 

7. Lại Mẫn (trang 64):

Sinh năm 1539, xã Ô Mễ, tổng Ô Mễ, huyện Vũ Tiên, nay thuộc xã Tân Hoà, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Năm 26 tuổi đỗ đồng tiến sĩ, làm quan qua các chức : Tri phủ phủ Phụng Thiên, kiêm Bí thư các, trải thăng hàm Thượng thư, kiêm Đô ngự sử.

 

8. Nguyễn Nghi (trang 51):

Người xã Kim Thanh, tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên, nay là xã Tiền Phong, thành phố Thái Bình, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ năm 1637, được bổ làm thừa Chánh sứ, có đi sứ sang Trung Quốc, lúc 50 tuổi ông trúng cách, được giữ chức Thám hoa bổ Tham chính, sau thăng đến hàm tả Thị lang.

 

 9. Đặng Nghiêm (trang 10):

Nguời xã An Để hương Mần Để, châu Hoàng, nay thuộc xã Hiệp Hoà, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ Minh kinh bác học năm 1185, được bổ chức khuyến học ở phủ, sau thăng đến chức Thuyết thư.

 

10. Đỗ Oánh (trang 45):

Có sách ghi là Đỗ Dung, người làng Ngoại Lãng, nay thuộc xã Song Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hội nguyên đồng tiến sĩ năm 1508, làm thị thư ở Viện Hàn lâm, sau làm Hiệu lí rồi thăng dần đến Đông các học sĩ.

 

11. Quản Phác (trang 31):

Có sách viết là Vũ Dương hay Vũ Giàng, người làng Đại Hội, nay thuộc xã Tân Hoà, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1484, làm hiệu lí ở Viện Hàn lâm, sau được bổ dụng làm Hiến sát sứ Kinh Bắc.

 

12. Bùi Duy Phan (trang 104):

Người xã Kim Thanh, tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên, nay thuộc phường Tiền Phong, thành phố Thái Bình. Đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm tri phủ.

 

13. Lê Quýnh (trang 40):

Người làng Tri Lai, nay thuộc xã Phú Xuân, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hoàng giáp năm 1496, thi đỗ xong chuyển sang ngạch võ, được phong Đô cấp sự trung. Sau khi đưa quân đánh thắng giặc ông được phong Binh bộ Thượng thư. Bất bình với nhà vua, ông cáo quan về quê. Thời Lê - Trung hưng truy phong ông là "Dực tán kiệt tiết công thần".

 

14. Khiếu Hữu Sử (trang 110):

Sinh năm 1835, quê xã Đồng Thanh, tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên, nay là phường Tiền Phong, thành phố Thái Bình. Trúng cử nhân năm 1884, trúng khoa bảng năm 1892. Ông không ra làm quan mà ở nhà dạy học, do không chấp nhận sự thống trị của thực dân Pháp và bè lũ tay sai.

 

15. Trịnh Hữu Thăng (trang 112):

Quê làng Bách Tính, nay là xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, đỗ cử nhân năm 1906, đỗ tiến sĩ năm 1919 nhưng không ra làm quan.

 

16. Bùi Tất Thắng (trang 49):

Người xã Mạo Lai, sau là Phương Lai, tổng Tri Lai, Vũ Tiên, nay là xã Tiền Phong, thành phố Thái Bình, đỗ đồng tiến sĩ, đệ tam giáp năm 1613, bổ vào Quang lộc tự, hàm Tự khanh, sau sung phó sứ sang Tàu.

Năm 1613 trúng cách, được bổ ngay chức Tự khanh, ông được cử làm phó sứ sang Trung Quốc, trên đường trở về bị cảm đột ngột và mất ở dọc đường. Vua Lê truy phong ông chức Hộ bộ Tả thị lang, cho làm phúc thần.

 

17. Vũ Như Thức (trang 83):

Người xã Phú An, tổng Khê Cầu, huyện Thư Trì, nay thuộc xã Hoà Bình, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông sinh năm 1718, đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ năm 1746.

 

18. Khiếu Đình Tuân (trang 73):

Người xã Tri Lai, huyện Vũ Tiên, nay thuộc xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, thi đỗ năm 1592. Ông là một trong số những tiến sĩ cuối cùng của vương triều Mạc thi đỗ ở kinh đô Thăng Long. Đỗ xong ông phải rút chạy khỏi kinh thành và bị bắt tại Bắc Giang . Nhà Lê thấy ông là người tài tha cho và dụ ông làm quan, nhà Mạc cũng cho vời ông ra làm quan nhưng ông khước từ. Ông cùng bạn học hợp mưu khởi sự không thành, ông cắt tóc đi tu tại chùa Vạn Ninh và mất ở đó.

 

19. Trần Củng Uyên (trang 40):

Quê làng Ngoại Lãng, nay thuộc xã Song lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, đỗ đồng Tiến sĩ năm 1496, làm quan Hiến sát sứ Thanh Hoá.

 

20. Nguyễn Phạm Viêm (trang 36):

Có sách ghi là Nguyễn Viện, không rõ ông ở làng nào huyện Vũ Tiên, nay là Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, đỗ Hoàng giáp năm 1487, ông gốc họ Nguyễn, làm con nuôi họ Phạm, khi đi thi lấy tên là Nguyễn Phạm Viên. Thi đỗ được bổ làm Hiệu lý ở Viện hàn lâm, sau được bổ làm Tham chính xứ.

 

21. Đỗ Vinh (trang 39):

Có sách chép Đỗ Hoàng hay Đỗ Hoằng, người thôn Mỹ Bổng, nay thuộc xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng Tiến sĩ năm 1496, làm quan đến Thái thượng Tự khanh. Khi vua Chiêu Tông bị bức tử, ông bỏ về quê đổi tên là Hoàng và làm nghề dạy học, Mạc Đăng Dung cho người về bắt, ông đã tự sát. Thời Lê - Trung hưng phong ông là kiệt tiết trung thần.

 

Thư mục sách mới

Hỗ trợ trực tuyến


Hãy đăng nhập Yahoo Messenger và kích vào biểu tượng trên để chúng tôi hỗ trợ bạn.