THƯ VIỆN TỈNH THÁI BÌNH

Danh nhân Thái Bình 03 In Email
 

Huyện Thái Thuỵ

 

 

1. Lưu Đức An: (56)

Lưu Đức An người xã Vũ Nghị, tổng Lễ Thần, huyện Thanh Lan, phủ Thái Ninh (nay thuộc xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình), đỗ đồng tiến sĩ năm 1538.

Lúc còn nhỏ ông theo gia đình sang định cư ở Tiên Hưng (Thần Khê). Hơn 30 tuổi ông lấy vợ và sang ở rể tại Thuỵ Anh, được sự giúp đỡ của họ hàng nhà vợ ông ra ứng thi, trúng cách. Ngoài 40 tuổi ông được vua Mạc xét vào hàng Tam giáp, bổ dụng làm Thừa chánh sứ Sơn Nam.

 

2. Quách Đình Bảo: (22)

Quách Đình Bảo sinh năm 1434, mất năm 1507, người làng Phúc Khê, huyện Thanh Lan, nay là xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.

Ông đỗ Thám hoa khoa Quý Mùi, đời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (1463).

Sau khi thi đỗ ông được bổ dụng chức Trực học sĩ trong Viện Hàn lâm. Năm 1470 ông được cử sang Trung Quốc, sau khi đi sứ về nước ông lần lượt được thăng các chức Đông các hiệu thư, Phó đô Ngự sử kiêm Tả xuân phường, Tả trung doãn.

Năm 1483 ông được thăng Thượng thư bộ Lễ, năm 1485 được thăng Hình bộ Thượng thư. Ông là người có nhiều công lao trong sự nghiệp giáo dục thời Lê sơ, là người nổi tiếng về thơ văn, xướng hoạ. Khi về trí sĩ Quách Đình Bảo được phong chức Thái phó và khi chết được phong làm phúc thần ở làng.

 

3. Nguyễn Hưởng Dung (trang 38):

Nguyễn Hưởng Dung, người làng An Tiêm, nay thuộc xã Thuỵ Dân, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.

Ông đỗ Hoàng giáp khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21, đời Lê Thánh Tông (1490). Khi chưa thi đỗ ông làm giáo thụ phủ Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Sơn  Bình xưa). Thi đỗ, ông làm giáo thụ rồi làm Huấn đạo sau thăng dần đến Tế tửu Quốc tử giám.

Năm Đinh Tỵ (1497), ông đi xứ, sau khi đi xứ về ông được thăng chức Thị lang bộ Lễ.

 

4. Nghiêm Vũ Đẳng (Vũ Chiêu) (trang 86):

Sinh năm 1725, người làng Kì Nhai, tổng Phú Khê (nay thuộc xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Ông thi đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1752, làm quan đến chức Hàn lâm đại chế.

 

5. Nguyễn Tất Đại (trang 25):

Nguyễn Tất Đại người làng Kha Lý nay thuộc xã Thuỵ Quỳnh, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đồng tiến sĩ khoa Ất Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 đời Lê Thánh Tông (1469). Sau khi thi đỗ ông cùng vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, sau khi đánh giặc trở về ông chuyển sang nghạch võ, chỉ huy cầm binh ở kinh đô. Sau ông cáo quan về nhà mở truờng dạy học ở Cao Dương và mất ở đó.

 

6. Uông Sĩ Điển (Sỹ Lăng)  (trang 87):

Người làng Vũ Nghị, tổng Lễ Thần, huyện Thanh Quan (nay thuộc xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Ông sinh năm 1736, năm 30 tuổi ông thi đỗ dệ Tam giáp đồng tiến sĩ. Ông trải qua nhiều chức : bồi tụng kiêm Đô ngự sử, tể tướng và được phong tước hầu.

 

7. Uông Sĩ Đoan (Sĩ Đạt) (trang 78).

Sinh năm 1694, tại xã Vũ Nghị, huyện Thanh Quan, nay là xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1721. Ông được vào phủ chúa giảng sách, dạy thế tử.

Ông làm quan qua các chức : Công bộ hữu thị lang, Công bộ Thượng thư. Năm 65 tuổi ông về trí sĩ nhưng được ở lại kinh dự hàng quốc lão.

 

8. Nguyễn Công Định (trang 22):

Người làng Biền Cát, nay thuộc xã Thái hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đồng tiến sĩ năm 1463. Sau khi thi đỗ ông được bổ chức hiệu lý ở viện hàn lâm, sau sang Tham tri bộ Hình và được thăng Thượng thư bộ hình.

 

9. Phan Học (trang 52):

Người thôn Vân Am, huyện Thuỵ Anh, nay là xã Thuỵ Quỳnh, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ năm 1532.

 

10. Phạm Thế Hiển (trang 101):

Sinh năm 1803, người làng Luyến Khuyết, tổng Đông Triều, huyện Đông Quan (nay thuộc xã Thuỵ Phong, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Đỗ đệ tam giáp đồng  tiến sĩ năm 1829. Ông làm quan với nhiều chức : Lại bộ viên ngoại lang, Biện lí hộ bộ sự vụ, Chánh phó sứ biện lí Lại bộ, Lại bộ hữu thị lang, án sát xứ Hải Dương vv... Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông nhiệt tình tham gia kháng chiến chống Pháp bị thất thủ, ông mất trên đường trở về Huế. Sau đó triều đình truy phục ông chức hàm Thị độc.

 

11. Phạm Tử Hiền (trang 30):

Quê làng Xá Thị, nay thuộc xã Thuỵ Hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đồng tiến sĩ năm 1481, thi đỗ được bổ làm hiệu lí ở Viện Hàn lâm, sau bổ dụng chức Hiến sát sứ ở Thanh Hoá, được mấy năm ông cáo quan lấy cớ về phụng dưỡng mẹ già. Khi nhà Mạc bắt ông ra làm quan, ông không nghe, bị chúng bắt giải về kinh và mất ở đâu không rõ.

 

12. Phạm Đình Hoàn (trang 55):

Quê làng Hoè Nhai, tổng An Tiêm, huyện Đông Quan, nay thuộc xã Thuỵ Dân, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ, được bổ làm Tham chính sứ Hải Dương.

 

13. Phạm Thế Húc (trang 104):

Người làng Luyến Khuyết, tổng Đông Triều, huyện Đông Quan, nay thuộc xã Thuỵ Phong, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ phó  bảng năm 1843, được giữ chức hàm Thị độc sung vào toàn Kinh diên dạy cho các thế tử, sau ông làm tri phủ Phú Vang và làm Đốc học Sơn Tây, Đốc học Nam Định.

 

14. Lê Khâm (trang 60):

Sinh năm 1511, quê xã An Tiêm, tổng An Tiêm, huyện Đông Quan, phủ Thái Bình, nay thuộc xã Thuỵ Dân, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ tiến sĩ đệ nhị giáp, đệ nhất danh năm 1550. Thi đỗ ông vào Hàn lâm viện tập sự, hết hạn ông được sung chức Hiến sát sứ Tuyên Quang. Bất bình với nhà vua, ông xin trí sĩ về quê và mất ở đó.

 

15 Hà Công Luận (trang 74):

Người xã Phúc Khê, tổng Phúc Khê, huyện Thanh Quan, nay thuộc xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Năm 22 tuổi đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, được giữ chức Đô cấp sự trung ở Binh bộ, sau bị giáng xuống làm Thiêm bạ rồi chuyển ra giữ chức quan võ nhỏ.

 

16. Nguyễn Mậu (trang 20):

Quê thôn Bích Du, huyện thuỵ Anh, nay là xã Thái Thượng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hoàng giáp năm 1488, được bổ dụng chức chuyển vận sứ huyện Lập Thạch, sau thăng Tri phủ lộ Tam Giang. Vua Lê Thánh Tông lên ngôi, ông được bổ dụng chức Tả thị lang bộ hình. 66 tuổi ông nghỉ hưu và được phong tước Hầu, khi chết được phong phúc thần.

 

17. Quách Hữu Nghiêm (trang 24):

Người làng Phúc Khê, huyện Thanh Lan, nay thuộc xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hoàng giáp năm 1466, được bổ dụng chức phó Đô ngự sử, sau đến Đô ngự sử, Thái đường Tự khanh và được đi sứ sang Trung Quốc.

 

18. Nguyễn Thọ Quỳnh (trang 29):

Sách đăng khoa lục chép là Nguyễn Thọ Kinh, người làng Kha Lý, xã Thuỵ Quỳnh, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Tiến sĩ năm 1478, làm quan chức Tự khanh.

 

19. Nguyễn Quang Tán (trang 48):

Người làng Biền Càn, nay thuộc xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Sinh năm 1465, mất năm 1535. Đỗ Hoàng Giáp năm 1514, được bổ dụng làm quan ở điện Đông các, sau xin về quê hương mở mang thuỷ lợi phát triển kinh tế vùng ven biển. Thời Lê - Trung hưng truy phong ông chức Lại bộ Thị lang.

 

20. Nguyễn Đình Tô (trang 52):

Sinh  năm 1509, người thôn An Xá, xã An Dân, tổng An Tiêm, huyện Đông Quan, nay là xã Thuỵ Dân, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Năm 23 tuổi đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ, được bổ làm Thị lang bộ Binh nhà Mạc, sau đó nhận chức Thái thường tự cho đến lúc nghỉ hưu.

 

21. Phạm Công Thế (trang 82):

Ông vốn họ Nguyễn, quê xã Phúc Khê, huyện Thanh Quan, nay là xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. 25 tuổi ông đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, giữ chức Đông các hiệu thư. Phẫn nộ trước việc phế, lập vua trong triều, ông cùng một số người định nổi dậy đốt kinh thành, việc bại lộ ông bị triều đình chém đầu.

 

22. Nguyễn Kiêm Tri (trang 54):

Người xã Thanh Do, tổng Hoá Tài, huyện Đông Quan, nay là xã Thuỵ Thanh, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ tam Giáp đồng tiến sĩ năm 1535, thi đỗ được bổ nhiệm trông coi Quốc tử giám, hai lần đi sứ, có công lớn được phong tước Nam.

 

23. Đinh Trinh (trang 43):

Người làng Vị Khê, nay thuộc xã Thái Phúc, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1502, thi đỗ ông được bổ làm Hàn lâm viện kiểm thảo, được cử sang Trung Quốc, khi về được thăng Thái bảo, chức Lễ bộ Thượng thư.

 

24. Nguyễn Thanh Tĩnh (trang 65):

Sinh năm 1517, người xã Hoa Chử, tổng Hoá Tài, huyện Đông Quan, nay thuộc xã Thuỵ Duyên, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ năm 1565, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang.

 

25. Lê Cương Xuyên (trang 55):

Quê làng Cao Cương, nay thuộc xã Thuỵ Chính, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, đỗ Tam giáp tiến sĩ. Ông sang sứ Bắc làm việc lớn, được triều đình nhà Minh khen ngợi, cả đoàn sứ bộ lên đường về nước trong không khí "tống cựu nghinh tân" đầy cảm phục.

           XEM TIẾP TRANG 4

 

Thư mục sách mới

Hỗ trợ trực tuyến


Hãy đăng nhập Yahoo Messenger và kích vào biểu tượng trên để chúng tôi hỗ trợ bạn.