THƯ VIỆN TỈNH THÁI BÌNH

Danh nhân Thái Bình 02 In Email

Huyện Kiến Xương

 

1. Trương Đăng Quĩ (trang 88):

Sinh năm 1732, tại xã Thanh Nê, tổng An Bồi, huyện Chân Định, nay thuộc xã Tán Thuật, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Năm 1756 ông đỗ đầu khoa thi hương, năm 1766 đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Làm quan qua nhiều chức vị : Hàn lâm viện thị chế, giám sát Ngự sử nhiều sứ, Hiến sát sứ Kinh Bắc, Đốc thị Nghệ An, Tham chính sứ Thanh Hoá, Đốc thị Thuận Quảng vv... 

 

Huyện Quỳnh Phụ 

 

1. Đỗ Nhân An: (57)

Quê làng Bệ, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Giáp thìn, đời Mạc - Quảng Hoà thứ 4 (1544).

Ông được bổ nhiệm chức Tham nghị (Hải Dương), hơn 1 năm sau ông cáo từ, chuyển vào Bí thư các. Năm Sùng Khang thứ 6, Bính Dần (1571) ông được thăng Lễ bộ Thị lang. Năm 1580 ông đi sứ sang Trung Quốc, cuối đời nghỉ hưu làm nghề dạy học.

 

2. Vũ Ảm: (61)

Ông sinh năm 1524, người xã Tô Xuyên tổng Tô Xuyên, huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).

Năm 26 tuổi ông thi đỗ đồng tiến sĩ, khoa Canh Tuất, Mạc Cảnh Lịch thứ 3 (1550), làm quan đến Lại bộ Tả thị lang kiêm phụ chính đại thần.

Ông là một trong số các triều thần còn lại có công phò tá vua Mạc Phúc Nguyên, được gia tặng tước Hầu, chức Tả phụ chính. Ông đã tự thân cầm quân nhiều lần chống lại quân Trịnh. Ông mất tại quân doanh, được vua Mạc truy phong là Đông nham hầu.

 

3. Ngọ Đức Cơ (61):

Ngọ Đức Cơ, còn có tên gọi là Ngọ Trực Hiên, sinh năm 1521, người làng Vọng Lỗ, tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), ông có vinh dự được vào học ở Quốc tử giám.

Năm 32 tuổi ông thi đỗ đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quí Sửi, Mạc Cảnh Lịch thứ 6 (1553). Làm quan trải các chức thừa Chính sứ (Sơn Nam), Thiêm sự bộ Binh tả Thị lang, rồi đến Thượng thư bộ Binh.

 

4. Đỗ Cảnh (47):

Người làng An Bài, nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ hoàng giáp khoa Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 đời Tương Dực đế (1514).

Thi đỗ, ông được bổ dụng làm quan ở bộ Binh sau thăng đến Tả thị lang bộ Binh và đi sứ, sau khi đi sứ về được thăng Tả thị lang bộ Lại. Khi Tương Dực đế sa đoạ ông cáo quan về quê, Chiêu Tông lên ngôi ông lại ra làm quan. Khi Mạc Đăng Dung tiếm quyền ông theo Chiêu Tông chạy ra Thanh Hoá, bị Dung bắt ông không chịu hàng phục nên bị giết.

 

5. Đỗ Cung (67):

Đỗ Cung người làng Bệ, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đỗ đệ Nhất giáp tiến sĩ đệ Tam danh, khoa Canh Thìn, Mạc - Diên Thành thứ 3 (1580), làm thừa chính sứ Hải Dương, sau sang Tế tửu Quốc tử giám triều Mạc. Thời Lê - Trung hưng ông làm tới chức Lễ bộ tả Thị lang.

 

6. Nguyễn Dần (Trang 71):

Nguyễn Dần sinh năm 1539, người làng Tô Xuyên, tổng Tô Xuyên, huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Đỗ đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất, Mạc - Đoan Thái thứ nhất (1856), sau khi thi đỗ, ông được làm Giáo thụ phủ Tây Quan. Cuộc đời giáo nghiệp của ông khá trọn vẹn và đào tạo được nhiều học trò có danh vọng.

 

7. Trần Diễm (trang 59):

Trần Diễm người tổng Tô Xuyên, huyện Phụ Dực (nay là xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Đỗ Nhị giáp tiến sĩ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Mạc - Quảng Hoà thứ 4 (1544) ; làm quan nhà Mạc qua các chức : Giám sát ngự sử (coi đạo Tuyên Quảng), đến Thiêm đô ngự sử, tước Tô Xuyên bá. Một lần sang sứ Bắc cầu phong vương cho Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan rất thanh liêm. Khi đi sứ về, ông xin trí sĩ. Lúc Mạc Chính Trung cùng triều thần là Tử Nghi nổi lên, ông xin vua Mạc mộ quân, tự thân đi đánh dẹp. Công việc không thành, ông về làng và mất ở Tô Xuyên trang.

 

8. Đỗ Diễn (trang 67):

Đỗ Diễn người làng Bệ, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Khoa Canh Thìn, Mạc - Diên Thành thứ 3 (1580) cùng anh đi thi, cả hai đều trúng cách. Ông đỗ Đệ nhị giáp, đệ nhất danh, làm ngự sử coi Đông Đạo, sau sang kinh lược sứ (An Bang). Làm quan đời Mạc về cuối chầu, Đỗ Diễn cùng Khiếu Đình Tuân khởi sự chống lại triều Mạc và nhà Lê Trịnh. Cuối năm 1952, ông kéo quân về vùng Sơn Nam hạ trấn đắp luỹ, dựng thành. Sau bị nhà Lê Trịnh đánh bại ở miền Hậu Tái (Bạch Đằng, Đông Hưng), ông bị xử trảm.       

 

 

9. Nguyễn Hữu Dực (trang 58):

Nguyễn Hữu Dực người xã Tràng Lũ, huyện Phụ Dực nay là xã An Tràng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông sinh ra lớn lên được ăn học đến nơi, đến chốn, qua các kì khảo hạch ở địa phuơng ông đều đỗ đầu. Khoa thi Giáp Thìn, Mạc - Quảng Hoà thứ 4 ông trúng đệ Tam giáp, đệ nhất danh, được bổ chức huyện thừa. Sau một thời gian làm quan với nhà Mạc ông cáo quan về làm trí sĩ, làm nghề dạy học. Ông đã dốc lòng cùng Vũ Ảm đào tiếp sông Diêm, làm lợi cho việc nông trang. Nhà Lê Trung hưng truy phong ông làm phúc thần.

 

10. Vũ Triệu Dung (trang 27):

Quê làng Tô Đàm, nay thuộc xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 6, đời Lê Thánh Tông (1475). Sau khi thi đỗ ông được bổ dụng ngay chức Giám sát Ngự sử ở vùng Đông đạo (thuộc Hải Dương - Quảng Yên). Giặc Chiêm Thành ra quấy phá, Vũ Triệu Dung xin chuyển sang ngạch võ, được phong chức Hùng uy vị tráng tướng quân, khi thắng trận trở về được thăng chức Phó sử sứ phụ trách tứ thành binh mã trấn Sơn Nam. Cuối đời ông về trí sĩ và mất ở làng.

 

11. Phạm Quí Đức (trang 105):

Sinh năm 1803, cha ông là người Vĩnh Bảo, Hải Phòng sang Cần Phán, tổng Đồng Chân, huyện Quỳnh Côi, nay thuộc xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ phó bảng kì thi Ân khoa năm 1848. Ông từng làm Tứ nghiệp trường Quốc tử giám, sau đổi chức Toản tu. Năm 1862, phẫn nộ với triều đình Huế ông bỏ quan về quê.

 

12. Nguyễn Duy Hằng (trang 63):

Sinh năm 1540, quê tại làng Vang, nay thuộc xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Năm 1559, ông đỗ tiến sĩ đệ nhị giáp, đệ tam danh. Thi đỗ, ông làm hiệu thảo ở Hàn lâm viện, đi sứ sang nhà Minh, sau về làm An phủ sứ rồi Đốc đồng, kiêm Kinh lược sứ.

 

13. Nguyễn Duy Hợp (trang 89):

Có tài liệu ghi thành Trần Duy Hợp, nhưng ông thực họ Nguyễn, quê xã Đông Linh, tổng Địa Linh, huyện Phụ Dực, nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông còn có tên nữa là Nguyễn Duy Phổ. Năm 23 tuổi ông thi đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Ông làm quan trải qua các chức : Cấp sự trung Công khoa. Hiệu thư Đông các, Thị lang bộ Công, Bồi tụng, sau được giao chức trấn thủ Sơn Nam tước Đông Nhạc hầu. Bất bình với họ Trịnh, ông bỏ quan về ẩn náu ở quê. Gia Long lên ngôi bắt ông đi sứ Trung Quốc, ông cáo bệnh quay về và mất tại quê hương.

 

14. Nguyễn Duy Hoà (trang 53):

Ông còn có tên là Di Lượng hay Duy Thuận, xã Địa Linh, tổng Địa Linh, huyện Phụ Dực, nay là xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình). Đỗ Hoàng giáp năm 1935. Ông làm ở Hàn lâm viện, sau bổ dụng tổng binh Thiêm sự, kiêm trấn thủ Cao Bằng, làm Quang lộc Tự khanh.

 

15. Đỗ Hoàn (trang 35):

Có sách viết là Đỗ Duệ hoặc Đỗ Tuấn, quê làng An Bài, nay là xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1475, thi đỗ ông được bổ dụng chức quản quân điện tiền cấm vệ, sau được thăng Công bộ thị lang. Ngoài 60 tuổi ông xin trí sĩ, được vua giao chức Tham chính Sơn Nam, khi mất được phong làm thần hoàng làng.

 

16. Nguyễn Viết Hoành (trang 62):

Sinh năm 1516, người làng Vang, nay thuộc xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ. Năm 40 tuổi đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, được sung làm Tham nghị trấn An Bang. Làm quan một thời gian ông xin về dạy học. Vua Mạc giáng ông xuống làm tri huyện Vĩnh Bảo, sau ông được cất nhắc làm giáo thụ Quốc tử giám. Năm 1572 ông cáo quan về làm trí sĩ rồi mất ở làng Sổ.

 

17. Nguyễn Doãn Khâm (trang 46):

Người làng Địa Linh, nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hoàng giáp khoa Giáp Tuất năm 1514. Sau khi thi đỗ, ông làm quan đến Thị lang bộ Lại rồi xin về dạy học ở Quốc tử giám. Khi nhà Mạc lộng hành, ông cáo quan về quê, Mạc Đăng Doanh mời ông ra làm quan ở bộ Lễ. Ông được cử đi sứ sang nhà Minh, đi sứ về ông xin trí sĩ và được thăng Lễ bộ Thượng thư.

 

18. Nguyễn Quý Lương (trang 52):

Người xã Địa Linh, tổng Địa Linh, huyện Phụ Dực, nay là xã An Bài, huyênh Quỳnh Phụ, đỗ đồng tiến sĩ năm 1529, được bổ làm giáo thụ, kiêm Tham chính sứ Cao Bằng.

 

19. Nguyễn Đức Mậu (trang 70):

Người xã Tô Xuyên, tổng Tô Xuyên, nay là xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Năm 1583 đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, làm quan nhà Mạc, khi nhà Mạc thất thế, nhà Lê bắt và vời ông cộng tác, ông từ chối, đi tu ở vùng Lạng Sơn và mất ở đó.

 

20. Bùi Tất Năng (trang 66):

Sinh năm 1535, người làng Lày, xã Dục Linh, tổng Địa Linh, nay thuộc xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Năm 36 tuổi đỗ đồng tiến sĩ. Ông đi sứ sang nhà Minh, sau bỏ quan đi tu ở vùng Lạng Sơn và mất ở đó. Nhà Lê - Trung hưng truy phong ông hàm Thừa chính sứ.

 

21. Đào Nguyên Phổ (trang 111):

Còn có tên là Đào Thế Cung, Đào Văn Mại, sinh năm 1861, tại xã  Thượng Phán, tổng Đồng Chân, huyện Quỳnh Côi, nay là xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Thi đỗ cử nhân năm 1884, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân năm 1898, được bổ chức Hàn lâm thừa chỉ, sau được cử làm chủ bút một tờ báo ở Hà Nội.

 

22. Phạm Duy Ru (trang 110):

Người xã Cần Phán, tổng Đồng Chân, huyện Quỳnh Côi, nay thuộc xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ cử nhân năm 1891, đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ  năm 1895, được giữ chức Tri phủ Kiến Thuỵ. Ông bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo.

 

23. Đào Tông (trang 68):

Người vùng Tô Hồ, nay thuộc xã An Mỹ, huyên Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ nhị giáp tiến sĩ, đệ nhất danh năm 1583, nhận chức Tham chính sứ Hải Dương, cuối đời về trí sĩ ở quê, đi tu theo nghiệp bố.

 

24. Đoàn Nguyễn Thục (trang 85):

Còn có tên là Đoàn Duy Tĩnh, quê xã Hải An, tổng Tang Thác, huyện Quỳnh Côi,  nay là xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông vốn họ Nguyễn ở Đại Hạnh, Văn Giang, Hải Hưng. Đỗ đệ Nhị giáp tiến sĩ xuất thân năm 1752, từng giữ chức Đông các hiệu thư, Thiêm đô ngự sử, được làm Chánh sứ dẫn đầu sứ bộ sang nhà Thanh. Sau vì bàn việc không hợp với chúa Trịnh, ông cáo quan về quê.

 

25. Đỗ Toại (trang 38):

Người làng An Bài, nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, đỗ đồng tiến sĩ năm 1496, ông đi sứ hai lần, khi về được thăng hàm Thái bảo rồi Tả thị lang bộ Lễ, trên đường đi sứ trở về lần thứ ba ông mắc bệnh rồi mất, được triều đình phong làm phúc thần.

 

26. Phạm Như Trinh (trang 37):

Người làng Mai Xá, nay thuộc xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng Tiến sĩ năm 1490, thi đỗ làm Hiệu lí ở Viện hàn lâm rồi lần lượt được thăng đến Thiêm đô ngự sử.

 

27. Nguyễn Viêm (trang 80):

Người làng Mĩ Xá, huyện Phụ Dực, nay thuộc xã An Hiệp, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hương cống năm 1716, đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1721, làm quan qua các chức : Tri huyện An Dương, Hiến sát sứ Hải Dương, Đốc đồng Hưng Hoá.

         XEM TIẾP TRANG 3

 

Thư mục sách mới

Hỗ trợ trực tuyến


Hãy đăng nhập Yahoo Messenger và kích vào biểu tượng trên để chúng tôi hỗ trợ bạn.