THƯ VIỆN TỈNH THÁI BÌNH

Danh nhân Thái Bình 01 In Email

CÁC V Ị ĐẠI KHOA THỜI PHONG KIẾN

 


Thái Bình là một địa phương có học phong nổi trội trong các triều đại Việt Nam. Người dân Thái Bình có đặc điểm là mặc dù khó khăn thiếu thốn nhưng vẫn ham học. Trong số các vị đỗ đại khoa của Thái Bình, có tới hơn 30 trường hợp nhà nghèo, lam lũ, có người nghèo đến mức thi đỗ mà không có tiền khao vọng theo lệ làng.

Trải dài hơn 800 năm trong suốt thời kì phong kiến, tính từ khoa thi đầu tiên thời Lý (năm 1075) đến khoa thi cuối cùng thời Nguyễn (năm 1919), Thái Bình có hơn 100 người đỗ đại khoa.

Cho đến nay chúng ta chưa thể xác định được trước khi ở Việt Nam tổ chức việc học hành thi cử, Thái Bình có bao nhiêu người đi du học, thi đỗ và ra làm quan ở các triều đại Trung Quốc. Theo khảo cứu, Thái Bình có thể còn có nhiều người đỗ đại khoa. Xong Theo cuốn "Trạng nghè ở Thái Bình",  xuất bản năm 1989, tỉnh Thái Bình có 111 người đỗ đại khoa, trong đó : huyện Đông Hưng có 13 người, Hưng Hà có 21 người, Kiến Xương có 1 người, Quỳnh Phụ có 27 người, Thái Thuỵ có 25 người, Tiền Hải có 3 người và Vũ Thư có 21 người.

Theo bố cục của tài liệu các vị đỗ đại khoa được sắp xếp theo các triều đại: Lý - Trần, Lê và thời Nguyễn. Theo nội dung WEBSITE của Thư viện, các vị đỗ đại khoa được sắp xếp theo theo từng huyện, trong mỗi huyện tên của các vị đỗ đại khoa lại được sắp xếp theo thứ tự A&B để bạn đọc truy cập và tìm kiếm thông tin được nhanh chóng.

Trong nhiều thập kỷ qua, Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Thái Bình luôn là niềm tự hào, phản ánh nền văn hoá và trí tuệ đặc trưng của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình. Bên cạnh chức năng là cơ quan giáo dục ngoài nhà trường, phục vụ đắc lực việc nâng cao dân trí, thư viện còn là trung tâm văn hoá khoa học, tàng trữ lâu dài các ấn phẩm văn hoá, tổ chức khai thác nguồn lực thông tin để phục vụ tốt nhất nhu cầu tìm tin của mọi đối tượng bạn đọc.

Ngày nay, với hệ thống thư viện điện tử hiện đại, Thư viện Thái Bình tổ chức đưa thông tin có trong sách báo lên mạng để phục vụ nhu cầu tra khai thác của bạn đọc. Với khuôn khổ trang WEB, Thư viện chỉ có thể giới thiệu một cách sơ lược về thân thế và sự nghiệp của 111 vị đỗ đại khoa thời phong kiến, bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu sâu và chi tiết hơn nữa, hãy tìm đọc cuốn "Trạng nghè ở Thái Bình", xuất bản năm 1989 và nhiều tài liệu khác như : Danh nhân Thái Bình, Lịch triều hiến chương loại chí, Về các giá trị dân tộc, Một chặng đường học thuật vv...  hiện đang được lưu giữ tại kho Địa chí của Thư viện tỉnh.


I/ Huyện Đông Hưng:

 

1. Phạm Cảnh(71):

Phạm Cảnh người xã Kì Trọng, tổng Đông Hối, huyện Thanh Quan (nay thuộc x• Đông Hà, huyện Đông Hưng) đậu Tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Kỉ Sửu, Mạc - Hưng Trị thứ 2 (1589). Học hành đỗ đạt, ông được Triều Mạc bổ làm Hiến sát sứ (Hải Dương).

Năm 1953, ông bị  nhà Lê Trịnh bắt, ông kiên quyết chối bỏ làm quan cho nhà Lê về quê sinh sống. Nhà Lê cho người về gọi ông lên kinh đô ép buộc làm quan, ông không chịu và đ• lao mình xuống sông tự vẫn. 

2. Nguyễn Bá Dương (89):

Nguyễn Bá Dương sinh năm 1740 tại xã Nguyên Xá, tổng Cổ Cốc, huyện Thần Khê (nay là xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình). Đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ khoa Bính Tuất, đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 (1766). Do nổi tiếng về tài học hành từ nhỏ ông được chúa Trịnh chú ý cho đặc cách không phải thi Hương. Ông làm quan Hàn lâm viện đại chế, Tế tửu Quốc tử giám. Ông mất năm 1785 (khi mới 46 tuổi). 

3. Nguyễn Hán Đình (trang 32):

Nguyễn Hàn Đình (Nguyễn Đình Mỹ), quê làng Cổ Quán, nay thuộc xã Thăng Long, huyện Đông Hưng. Ông đỗ Hoàng giáp khoa Giáp Thìn (1484), thi đỗ ông được bổ dụng chức Hàn lâm thừa chỉ, ít lâu sau ông sang làm Tham nghị Hải Dương, sau thăng đến Tham chính Hải Dương và được cử sang nhà Minh vào năm 1489.

Sau lần tiếp đón sứ bộ nhà Minh sang làm việc tại nước ta, ông được thăng chức Hình bộ Thượng thư, sau đó được cử làm công bộ phó sứ. Khi thấy vua bất tài, ông cáo quan về mở trường dạy học ở làng Đài Vương (nay thuộc xã Minh Tân, huyện Đông Hưng), ông mất ở đó và được thờ làm phúc thần.

4. Chu Hinh (trang 10):

Người làng Đông Các, tổng Đông Hưng, huyện Thanh Quan, nay là xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Bảng nhãn năm 1256, làm quan thời Trần, chức An phủ chánh sứ.

5. Phạm Quang Huân (trang 75):

Còn gọi là Phạm Công Huân, người xã Hoàng Xá, tổng Hoàng Quan, huyện Đông Quan, nay là xã Đông Phương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ông sinh năm 1651, đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1697. Ông lần lượt được cử các chức : Đốc đồng, Đốc trấn coi giữ vùng duyên hải Bắc Hà.

6. Hoàng Kỳ (trang 69):

Sinh năm 1559, người xã Phong Lôi, tổng Đông Động, huyện Thanh Quan, phủ Tây Quan, nay là xã Đông Hợp, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ năm 1583, làm quan đến chức Tham chính sứ, Tự khanh, tước Bá. Ông làm quan nhà Mạc, sau đó nhà Lê - Trung hưng chức Tham chính, được cử đi sứ sang nhà Minh, về nước được phong tặng Tự khanh, tước Bá.

7. Nguyễn Thành (trang 11):

Người thôn An Vĩnh, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng, nay là xã Mê Linh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, trúng cách năm 1400, được triều Hồ bổ dụng vào toà Kinh diên, kiêm thêm Tế Tửu Quốc tử giám. Ông bị giặc Minh bắt và dụ làm quan nhưng ông chối từ và trốn về quê mở lớp dạy học.

Sau khi thắng giặc Minh, nhà Lê vời ông ra giữ việc trông coi, tu sửa lại Quốc tử giám.

8. Lê Hữu Thanh (trang 106):

Người xã Thượng Tầm, tổng Thượng Tầm, huyện Thanh Quan, nay thuộc xã Đông Phong, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ông sinh năm 1814, trúng cử nhân năm 1850,  Hoàng giáp năm năm 1951, được bổ làm bố chánh Hà Nội, Thần phủ Ninh Bình.

9. Đào Vũ Thường (trang 83):

Người xã Yên Lũ, tổng Hà Nội, huyện Thanh Quan, nay là xã Đông Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. 19 tuổi ông thi đỗ Hương cống, năm 24 tuổi đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ, làm quan tới chức Hiến sát sứ.

10. Bùi Sĩ Tiêm (trang 77):

Sinh năm 1689 tại xã Kinh Lũ, tổng Bình Cách, huyện Đông Quan, nay thuộc xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1715, làm quan qua các chức : Hiệu lí Hàn lâm viện, Đông các hiệu thư, Đông các học sĩ, Đốc đồng Thái Nguyên. Năm 1730, ông được phong Hoàng tín đại phu chức Thái thường Tự khanh. Không đồng tình với ông, chúa Trịnh đã cách chức, cho ông về quê. Ông đã mở lớp dạy học tại An Phú, nay thuộc xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ. Sau triều đình xét lại truy tặng ông làm Tham chính, tước Trung tiết hầu và cấp ruộng để thờ cúng.

11. Đào Triết (trang 49):

Người làng Thụ Triền, nay thuộc xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1523, làm quan đến chức Giám sát ngự sử, sau về nhà dạy học.

12. Đặng Doãn Tu (trang 32):

Quê làng Đông Hội, nay thuộc xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đỗ Đồng tiến sĩ năm 1484, được bổ sung vào đoàn sứ bộ sang nhà Minh. Ở Trung Quốc ông dự kì thi hội và được công nhận đồng tiến sĩ. Về nước được bổ làm Trực học sĩ ở Viện hàn lâm, khi mất được thăng Hình bộ Thượng thư.

13. Phạm Hưng Văn (trang 28):

Người làng Động Hồi, nay thuộc xã Đông Vinh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đỗ Hoàng giáp năm 1475, thi đỗ được bổ dụng vào Viện Hàn lâm và thăng dần đến Hộ khoa Đô cấp sự trung. Được cử chánh sứ sang nhà Minh, ông bị bệnh và mất trên đường đi sứ về. Triều đinh truy phong chức Hình bộ Thuợng thư. 

 

II/ Huyện Hưng Hà:


1. Đặng Ất: (48)

Đặng Ất người làng Hải Triều, nay thuộc xã Phạm Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Dần, niên hiệu Quang Thiệu thứ 3 đời Lê Chiêu Tông (1518).

Từ thuở nhỏ ông học hành thông minh, thi Hương và thi Hội đều đỗ đầu, thi Đình đỗ thứ Năm.

Ông được Lê Chiêu Tông cử về làm giám sát Ngự sử Hải Dương để hạn chế quyền hành họ Mạc. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông không chịu khuất phục, bị bắt giam ông đã tự vẫn để giữ khí tiết.

Thời Lê Trung Hưng ông được phong làm phúc thần, cho dân làng Hải Triều lập đền thờ cúng. Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" đã xếp ông vào hàng bề tôi tiết nghĩa. 

2. Phạm Nguyên Chấn (43):

Phạm Nguyên Chấn người làng Hải Triều nay thuộc xã Phạm Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Hoàng Giáp khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 đời Lê Hiến Tông (1499). Thi đỗ, ông được bổ dụng làm quan ở Ngự sử đài sau thăng Thiêm đô ngự sử.

Năm Cảnh Thống thứ 5 (1502) được xung vào đoàn sứ hộ sang Nhà Minh. Khi Mạc Đăng Dung tiếm quyền, ông bỏ về làng Hới vỡ hoang, trồng cói, lập căn cứ phù Lê chống Mạc. Việc bị lộ ông trốn sang quê vợ ở Tứ Kỳ, Mạc Đăng Dung cho người vời ra làm quan, ông từ chối.

Thời Lê Trung Hưng phong ông làm phúc thần, truy phong tiết nghĩa công thần (sách lịch triều hiến chương loại chí có ghi ông vào hàng bề tôi tiết nghĩa).

3. Nguyễn Dự (trang 45):

Nguyễn Dự người làng Đặng Xá, nay thuộc xã Trần Phú, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ khoa Mậu Thân niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 đời Lê Uy Mục (1508). Làm quan đến chức phó Đô ngự sử. Khi nhà Mạc tiếm ngôi, ông theo vua Lê Chiêu Tông chạy ra Thanh Hoá. Mạc Đăng Dung đưa quân đuổi theo đón vua về kinh, Nguyễn Dự đã can vua không nên về, lời can bị lộ, Mạc Đăng Dung sai người bắt ông đem chém. Thời Lê - Trung hưng ông được phong tiết nghĩa.

4. Lê Quý Đôn (Trang 84):

Lê Quý Đôn sinh năm 1726 tại làng Phú Hiếu, huyện Duyên Hà (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), mất năm 1784. Năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743), ông đậu giải Nguyên trong kì thi Hương, năm 1752 ông thi đỗ đệ Nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị danh (Bảng nhãn) - đứng đầu cả thi Hội lẫn thi Đình. Ông đã được làm rất nhiều chức vị khác nhau trong triều cũng như ngoài trấn. Trước khi mất ông đang giữ chức Công bộ Thượng thư.

Lê Quý Đôn viết rất nhiều, ông đã để lại cho thế hệ sau một khối lượng tác phẩm rất lớn về thơ văn, sử học, địa lí vv...

5. Lê Tĩnh Hiếu (trang 36):

Quê làng Phúc Hải, nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đồng tiến sĩ năm 1490. Thi đỗ ông được vào viện Hàn lâm rồi được bổ làm quan Ngự sử, sau thăng đến Đô ngự sử. Thời vua Lê Uy Mục ông xin trí sĩ về làng đổi thành họ Lương dạy học. 

6. Lê Thừa Hưu (trang 42):

Người làng Nhữ Thuỷ, nay là xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1499, làm quan đến chức Binh khoa đô cấp sự trung, xung chức phó sứ.

7. Đồng Hưu (trang 82):

Sinh năm 1687, người xã Nhữ Vĩnh, huyện Ngự Thiên, nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, từng làm huấn đạo hàm Tự khanh và 2 lần được đi sứ sang Trung Quốc. Sau về trí sĩ ở Chí Linh (Hải Dương) và mất ở đó.

8. Nguyễn Minh Khang (trang 27):

Người làng Phúc Hải, nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1475, làm quan đến chức hữu Thị lang và đã đi sứ sang nhà Minh.

9. Nguyễn Văn Kiệt (trang 44):

Người làng Mĩ Xá, nay thuộc xã Trần Phú, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1502, được bổ dụng làm quan ở Ngự sử đài và thăng đến chức Thiêm đô ngự sử.

10. Hoàng Công Lạc (trang 76):

Sinh năm 1688, tại xã Đô Mĩ, tổng Ỷ Đún, huyện Thần Khê, nay là x• Tây Đô, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, 18 tuổi đỗ Hương cống, 24 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, ông được bổ chức tri huyện, rồi Hiến sát sứ coi việc hình án ở Thanh Hoá, sau ông về quê mở lớp dạy học

11. Phạm Đôn Lễ (trang 29):

Người làng Hải Triều, nay thuộc xã Phạm Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ Tam nguyên năm 1481, được bổ dụng chức Hàn lâm thừa chỉ, sau đến Tả thị lang hàm Thượng thư.

12. Cao Nguyễn Loại (trang 81):

Sinh năm 1696 tại xã Phúc Hải, tổng Tống Súc, huyện Ngự Thiên, nay là xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1724, được thăng chức Quang lộc Tự khanh.

13. Nguyễn Can Mộng (trang 111):

Hiệu là Nông Sơn, người làng Hoàng Nông, tổng Canh Nông, huyện Duyên Hà, nay thuộc xã Điệp Nông, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Sinh năm 1880, mất năm 1954, đỗ cử nhân năm 1912, đỗ Phó bảng năm 1916, làm Huấn đạo huyện Ý Yên, rồi giáo sư chữ Hán, sau thăng đốc học.

14. Nguyễn Tủng Mục (trang 34):

Người làng Hiến Nạp, nay thuộc xã Minh Khai, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ đồng tiến sĩ năm 1487, làm thừa chỉ ở Viện hàn lâm, phó Đô ngự sử. Khi nhà Mạc cướp ngôi ông bỏ quan về quê dạy học. Nhà Mạc bắt ông ra làm quan, ông bỏ trốn vào Thanh Hoá và mất ở đó. Thời Lê - Trung hưng phong ông làm phúc thần ở làng.

15. Đoàn Huệ Nhu (trang 33):

Còn có tên là Phạm Như Huệ, người làng Phù Ngự, nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, đỗ đồng tiến sĩ năm 1487, được cử sang nhà Minh, khi về nước được vào Đông cung dạy Thái tử.

16. Nguyễn Tông Quai (trang 79):

Người xã Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, nay thuộc xã Hiệp Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông sinh năm 1962, mất năm 1767. Năm 29 tuổi ông đỗ đầu khoa thi hội, khoa thi đình ông đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân. Ông làm quan qua các chức : Hàn lâm sử quán, thừa chính xứ Kinh Bắc, đốc đồng Tuyên Quang, hình bộ tả thị lang kiêm lục bộ Thượng thư tước Ngọ đình hầu. 59 tuổi ông về quê mở lớp dạy học, đào tạo được nhiều người thành đạt.

17. Nguyễn Tông Thường (trang 90):

Quê xã Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, cha ông đến làng Lâm, xã Phúc Khê, huyện Ngự Thiên, nay là xã Hiệp Hoà, huyện Hưng Hà sinh sống.  Năm 37 tuổi ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm quan ở Đông Các điện.

18. Lê Phú Thứ (trang 81):

Sinh năm 1693 tại làng Phú Hiêú, huyện Duyên Hà, nay là xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Năm 1720 tuổi thi đỗ Hương cống, năm 1724 đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, được bổ chức ở Hàn lâm viện, rồi thăng phó  Đô ngự sử, bị bọn gian thần dèm pha ông bị bãi chức. Trịnh Doanh lên ngôi mời ông ra bổ chức Tham tri Hộ bộ - Thị lang. Khi về trí sĩ ông được phong tặng chức Hình bộ Thượng thư.

19. Nguyễn Trạch (trang 50):

Sinh năm 1571, người xã Nhâm Lang, tổng Hiệu Vũ, huyện Ngự Thiên, nay là thôn Nhâm Lang, xã Cấp Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Năm 1628 thi đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và làm quan ở Viện Hàn lâm, được sung chức Tự khanh, sau đó trải thăng đến Tả tham tri bộ Lại.

20. Đào Thế Trinh (trang 106):

Người xã Tịnh Xuyên, tổng Thượng Hộ, huyện Thư Trì, nay thuộc xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đỗ cử nhân năm 1846, phó bảng năm 1581, được bổ nhiệm các chức : Huấn đạo Hưng Nhân, Giáo thụ Khoái Châu, Tri huyện. Bất bình với triều đình bỏ quan về nhà cùng các con và một số văn thân lập hương dõng chống Pháp.

21. Nguyễn Uyên (trang 63):

Người thôn Nhâm Lang, nay thuộc xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ năm 1556. Năm 1580 ông được sung Thượng thư cùng sứ bộ mang nhà Minh, khi trở về ông bị bệnh và mất ở dọc đường.

           XEM TIẾP TRANG 2

 

Thư mục sách mới

Hỗ trợ trực tuyến


Hãy đăng nhập Yahoo Messenger và kích vào biểu tượng trên để chúng tôi hỗ trợ bạn.